Author Archives: Quản Trị

Các trường hợp làm bằng ống cứng

Mình Xin tổng kết một số trường hợp làm bằng ống cứng để quí bệnh nhân mới tham khảo trước khi quyết định, Các bệnh nhân ở xa tự tin bay vào cho BS Thanh điều trị cũng như các bệnh nhân đã làm bằng ống mềm với BS Vân Thanh thấy được sự hiệu quả của nó.
HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH

BỆNH NHÂN ĐÀ NẴNG LÀM BẰNG ỐNG CỨNG TẠI BV Đa Khoa Đà Nẵng hơn 5 tháng VẪN KHÔNG KHỎI TRONG KHI NẾU LÀM BẰNG ỐNG MỀM SAU CẮT SẼ NÓI CHUYỆN BÌNH THƯỜNG (CHỈ HẠN CHẾ NÓI TO, NÓI NHIỀU THÔI) (5 THÁNG VẪN CÒN KHÀN)- HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH

ongcung007 Các trường hợp làm bằng ống cứng

BỆNH NHÂN HÀ TĨNH LÀM BẰNG ỐNG CỨNG TẠI TMH TW KIÊN HẲN 1 TUẦN KHÔNG NÓI VẪN CÒN KHÀN VÀ MỆT TRONG KHI NẾU LÀM BẰNG ỐNG MỀM SAU CẮT SẼ NÓI CHUYỆN BÌNH THƯỜNG (CHỈ HẠN CHẾ NÓI TO, NÓI NHIỀU THÔI) (2 NĂM VẪN CÒN KHÀN)- HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH

ongcung006 Các trường hợp làm bằng ống cứng

BỆNH NHÂN NGUYỄN HỒNG LƯU (NGHỆ AN) LÀM BẰNG ỐNG CỨNG TẠI TMH TW 6 NGÀY VẪN CÒN KHÀN TRONG KHI NẾU LÀM BẰNG ỐNG MỀM SAU CẮT SẼ HẾT KHÀN NGAY (2 NĂM VẪN CÒN KHÀN)- HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH
ongcung005 Các trường hợp làm bằng ống cứng

BỆNH NHÂN CĂT NANG DÂY THANH BẰNG ỐNG CỨNG TẠI TMH SÀI GÒN VẪN CÒN KHÀN TRONG KHI NẾU LÀM BẰNG ỐNG MỀM SAU CẮT SẼ HẾT KHÀN NGAY. HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH
OngCung TMH SG Các trường hợp làm bằng ống cứng

BỆNH NHÂN CĂT HẠT DÂY THANH BẰNG ỐNG CỨNG TẠI BỆNH VIỆN QUỐC TẾ HUẾ 2 THÁNG VẪN CÒN KHÀN. HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH
OngCung quocte HUE1 Các trường hợp làm bằng ống cứng

TRƯỜNG HỢP LÀM BẰNG ỐNG CỨNG TẠI TMH TW MÀ TƯỞNG LÀ ỐNG MỀM (2 NĂM VẪN CÒN KHÀN)- HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH
ongcung0041 Các trường hợp làm bằng ống cứng

TRƯỜNG HỢP LÀM BẰNG ỐNG CỨNG TẠI TMH TW (1 THÁNG VẪN CÒN KHÀN)- HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH
ongcung0022 Các trường hợp làm bằng ống cứng

BỆNH NHÂN Ở NGHỆ AN CẮT HẠT BẰNG ỐNG CỨNG TẠI TMH TW (4 NGÀY CHƯA NÓI ĐƯỢC) – HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH

ongcung003 Các trường hợp làm bằng ống cứng

CHI PHÍ LÀM BẰNG ỐNG CỨNG LÀ TRÊN 10 TRIỆU – HÃY DOUBLE CLICK ĐÊ XEM HÌNH

ongcung001 Các trường hợp làm bằng ống cứng

MỌI NGƯỜI THAM KHẢO NHẬN XÉT CỦA BỆNH NHÂN TRÊN TRANG FACEBOOK Tư Vấn, Điều trị Bệnh Khàn Tiếng Community

Tâm Thư từ Bệnh Nhân

 

 

Đây là bài thơ được cô Nguyễn Thị Xuân Ngọc từ Hà Nội viết tặng Ths. BS Phạm Thị Vân Thanh sau khi điều trị cắt Polyp dây thanh.

Năm 2013 cô Nguyễn Thị Xuân Ngọc làm mọi thủ tục ở Bệnh viện TMH Trung Ương nộp tiền ứng từ 20/6/2013 đến 20/7/2013 NHƯNG CHƯA ĐƯỢC DUYỆT MỔ với lý do: TUỔI CAO (67) VÀ BỆNH HUYẾT ÁP CAO.
khi đó cô đã làm một số xét nghiệm trước hết 1,800,000 VND (MỘT TRIỆU TÁM TRĂM NGÀN ĐỒNG). Cô bèn lên mạng tìm nơi chữa khàn tiếng, thấy phòng mạch KHANG-AN của Ths-BS Vân Thanh hay hay, cô đã gọi cho 3 số điện thọai bất kỳ để tìm hiểu. Sau khi gọi xong cô đã mạnh dạn mua về khứ hồi bay vào TP Hồ Chí Minh ngày 25/7/2013 và cắt Polyp. Vào ngày 27/7/2013 sau đúng 1 tháng thấy tiến triển tốt. Cô Ngọc đã cảm động, ấn tượng quá tốt với BS Vân Thanh nên đã viết tặng BS Vân Thanh bài thơ “NƠI CẦN TÌM” để thay lời cảm ơn Vân Thanh và để CÁC BỆNH NHÂN NHƯ CÔ THÊM ĐIỀU KIỆN THAM KHẢO VÔ TƯ NHẤT

Bài thơ (chỉ 1 trang giấy) nhưng phác họa đầy đủ tâm trạng của người bệnh trước khi tìm hiểu trang web đến khi gặp BS và sau điều trị, cũng như phong cách phục vụ, tay nghề và hiệu quả của phương pháp nội soi ống mềm mang lại.

Xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Xuân Ngọc về bài thơ rất ý nghĩa.

TamThu NguyenThiXuanNgoc003 Tâm Thư từ Bệnh Nhân

TamThu NguyenThiXuanNgoc001 Tâm Thư từ Bệnh Nhân

TamThu NguyenThiXuanNgoc002 Tâm Thư từ Bệnh Nhân

NƠI CẦN TÌM

Cảm ơn Thạc Sĩ Vân Thanh
Bệnh nhân, thầy thuốc mới thành quen nhau
Tuy rằng gặp mặt không lâu
Bao nhiêu lo lắng âu sầu tiêu tan
Chỉ là một chút thời gian
Chỉ năm, bảy phút mà tan nỗi buồn
Ra đi hồi hộp, bồn chồn
Khi về phơi phới, tâm hồn thảnh thơi
Khó tin rằng có một nơi
Chữa trị thanh quản tuyệt vời thế ư?
Thọat nghe bán tín bán nghi
Có đi mới biết, tin gì đúng sai
Bước vào phòng mạch sớm mai
Chỉ sau 7 phút ra ngòai nghỉ ngơi
Tay nghề, Kỹ thuật tuyệt vời
Hai phút chuẩn bị có người lo toan
Vân Thanh với bàn tay vàng
Năm phút thao tác, mời sang phòng ngòai
Liều bay một chặng đường dài
Để mà trải nghiệm đúng sai thế nào?
Kể từ lúc bước chân vào
Sau 50 phút ta chào chia tay
Với lời dặn dò hàng ngày
Không phải im lặng, nói ngay nhẹ nhàng
Sau 2 giờ, ăn bình thường
Không phải sữa cháo, vấn vương trong lòng
Tạm biệt hòn ngọc viễn đông
Tạm biệt thầy thuốc mà lòng rất vui
Phút giây ấn tượng một đời
Thơ này nên để nhiều người cùng xem
Chưa tin, rồi cũng nên tin
Đó là sự thật, nên tìm đến nơi
Trị Khàn Tiếng, rất tuyệt vời
Khang-An phòng mạch là nơi cần tìm

213 đào duy từ – TP Hồ Chí Minh 27-7-2013
Số 493 G Trương định, Hà Nội chiều 27-8-2013
Bệnh nhân Nguyễn Thị Xuân Ngọc
ĐT 0124.790.9663

CẢM XÚC…

Tay vàng… Bác sỹ Vân Thanh
Lướt nhanh thoăn thoắt bệnh lành hẳn ngay
Dây thanh để nói hằng ngày
Bây giờ cất giọng hát hay đã rồi.

Cảm ơn!… không nói nên lời
Hằng ngày vẫn nhớ nụ cười đẹp duyên
Tấm lòng rộng mở vô biên
Bệnh nhân nếu có thiếu tiền không lo.

Em như một cánh bườm to
Đón gió vượt sóng đưa đò qua sông
Ngày dài đêm lại chờ mong
Nhắn lời điện thoại khỏi trông đợi chờ.

Hàng ngàn câu nói không ngờ
Trình độ Bác sỹ bên bờ trời xa
Bình minh tỏa sáng mọi nhà
Quên đi khó nhọc can qua đã rồi.

Chúc cho sức khỏe tuyệt vời !
Để em luôn nở nụ cười thân thương…
20-4-2016 dong lam Tran

Donglam Tran THAY LỜI MUỐN NÓI

Cảm ơn! Bác sỹ Vân Thanh.
Cứu người nghẹt thở… nhịp nhanh bên mình
Nụ cười em quá hữu tình
Đức cao vọng trọng bóng hình mơ tiên.

Em là Bác sỹ vô biên
Bệnh nhân cả nước luôn nghiêng về người
Mai này họ nở nụ cười
Hằng ngày hạnh phúc lòng tươi vì nàng.

Biển xanh trải ánh nắng vàng
Khắc ghi sóng lượn nhẹ nhàng lướt qua.
Hạnh phúc vui khỏe bên nhà
Vân Thanh… luôn tặng khúc ca khải hoàn….

(Thay mặt gia đình bệnh nhân chân thành cảm ơn Bác sỹ nhiều…bằng lời thơ nhé! ).
( Chúc Bác sỹ và gia đình hạnh phúc-vạn sự như ý).

TranQuangDong Tang BSThanh0021 Tâm Thư từ Bệnh Nhân

TranQuangDong Tang BSThanh0012 Tâm Thư từ Bệnh Nhân

MỌI NGƯỜI THAM KHẢO NHẬN XÉT CỦA BỆNH NHÂN TRÊN TRANG FACEBOOK Tư Vấn, Điều trị Bệnh Khàn Tiếng Community

 

Lợi và hại khi ‘oral sex’

“Yêu” đường miệng (oral sex) là hình thức quan hệ tình dục phổ biến ngày nay. Tuy nhiên, bạn nên biết rằng cách này chứa đầy rẫy những mối nguy hiểm cho cơ thể.

Ngày nay, oral sex chẳng còn xa lạ trong đời sống tình dục của chúng ta bởi nhiều người tin rằng nó an toàn và không để lại hậu họa về sau. Như trường hợp Minh Hoàng (quận 5, TP HCM) cũng nghĩ vậy, khi anh và bạn gái chưa đủ điều kiện để tổ chức đám cưới nhưng không thể kìm nén cảm xúc mỗi lần gần nhau. Bạn gái anh còn đang đi học và có tư tưởng bảo thủ, quyết không để mất “cái ngàn vàng” trước khi đám cưới.

Phải đấu tranh, giận dỗi mãi, Minh Hoàng mới được bạn gái đồng ý cho oral sex. Dù không mấy vui vẻ và thích thú kiểu này nhưng thấy nó chẳng tổn hại gì đến cái mà cô cần giữ gìn mà lại có thể làm hài lòng người yêu và giúp tình yêu thêm gắn bó nên cô cũng phải đồng ý.

oralsex Lợi và hại khi oral sex

Ảnh minh họa: News.

Không quá bảo thủ như người yêu của Minh Hoàng, Hà An và người yêu (quận Hoàng Mai, Hà Nội) cũng chọn oral sex cho khúc dạo đầu thêm nồng nàn. Đồng thời, đây cũng là cách được đôi trẻ áp dụng trong những ngày đèn đỏ hoặc nghi trứng rụng vì chưa muốn có con.

Mới đầu, Hà An không hề hứng thú, nhưng mỗi lần hành sự, thấy chàng sung sướng cô cũng thấy vui lây, lâu dần thành quen. Thỉnh thoảng họ còn học hỏi thêm các cách mới trên mạng để đời sống tình dục thêm phấn khích.

Kiểu yêu này không chỉ thịnh hành trong giới trẻ, những cặp vợ chồng trung niên bắt đầu gặp các trục trặc với chuyện chăn gối như khô âm đạo hay xuất tinh sớm cũng tìm đến oral sex như một cứu cánh. Giới đồng tính cũng chọn kiểu yêu này để làm nhau hài lòng và họ tin rằng nó mang lại khoái cảm.

Với kiểu “yêu” này, nhiều người cho rằng có thể thoải mái “ăn ốc” mà không phải lo “đổ vỏ”, tránh xa được căn bệnh HIV/AIDS và vẫn là gái ngoan trong mắt mọi người. Tuy nhiên, theo các bác sĩ chuyên khoa, kiểu yêu này không an toàn như chúng ta nghĩ.


Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa

Gần đây, Hà An bị đau họng, ho, thậm chí, giọng nói cũng có nhiều thay đổi. Tuy đã đi khám và uống rất nhiều thuốc, rồi từ ngậm chanh, mật ong đến các loại bổ phế, long đờm rồi kháng sinh liều cao cũng không thấy đỡ. Cảm giác mệt mỏi và đau ở cổ họng khiến cô ăn mất ngon, ngủ không tròn giấc.

Đến tháng thứ 3, không thể chịu đựng hơn, cô đến khoa tai mũi họng của Bệnh viện Bạch Mai để khám, sau một hồi soi, khám và làm nhiều xét nghiệm, các bác sĩ nghi vấn cô bị ung thư vòm họng giai đoạn 2, cần quay lại để làm xét nghiệm lần nữa cho chắc chắn.

Không tin vào kết quả vì xưa nay cô không hút thuốc và uống rượu. Nhưng sau khi bác sĩ đưa ra nhiều giả thuyết, trong đó có giả thuyết virus HVP làm ung thư cổ tử cung cũng có thể là tác nhân gây nên ung thư vòm họng nếu “yêu” bằng miệng thì cô chết điếng. Có ai ngờ, cái kiểu yêu hoàn hảo ấy lại có thể làm hại cô đến mức đó?

Tiến sĩ Lê Vương Văn Vệ – Giám đốc Bệnh viện Chuyên khoa Nam học và Hiếm muộn Hà Nội cho biết: Oral sex chưa bao giờ là phương án an toàn bởi nó có thể khiến miệng và bộ phận sinh dục của bạn mắc nhiều bệnh hơn bạn tưởng. Thực chất oral sex chỉ có thể phòng tránh việc mang thai ngoài ý muốn chứ không thể ngăn ngừa sự lây lan của các căn bệnh lây qua đường tình dục.

Hiện có khoảng 20 chứng bệnh có thể lây qua đường tình dục: Lậu, giang mai, chlamydia, hạ cam mềm, mụn rộp sinh dục, viêm gan siêu vi B, HIV/AIDS… Và dù chỉ quan hệ bằng miệng, bạn vẫn có thể mắc cả 20 chứng bệnh nguy hiểm này.

Tất nhiên, không phải cứ oral sex là bạn sẽ bị lây bệnh tình dục, bạn chỉ bị lây bệnh nếu đối tác của bạn mắc bệnh và bộ phận sinh dục hoặc cổ họng của bạn đang có những vết trầy xước nhỏ hoặc vết thương hở. Không may, khi oral sex, âm đạo và dương vật rất dễ bị tổn thương do những ma sát của răng, chính vì vậy khả năng lây càng cao.

Cần hết sức thận trọng

Không chỉ gặp nạn với các bệnh tình dục, theo nghiên cứu mới nhất được đăng tải trên tờ New York Daily News: Virus HPVcó thể lây truyền từ người này sang người khác qua sinh hoạt tình dục và oral sex. Vấn đề này đã trở thành nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư cổ họng nhanh và mạnh hơn so với việc uống rượu và hút thuốc lá.

HPV là một virus rất nguy hiểm, chúng lây truyền khá nhanh và được biết đến như là một trong những nguyên nhân gây mụn cóc sinh dục hoặc ung thư cổ tử cung. Nếu bạn oral sex với đối tác có sẵn HPV trong miệng, việc bạn mắc virus HPV là điều đương nhiên. Như mọi loại virus khác, không phải ai mắc virus HPV cũng bị ung thư, chỉ những người thường xuyên bị stress, cơ thể suy yếu, hệ miễn dịch suy yếu khiến virus HPV phát triển thì chúng mới có thể phát triển thành bệnh ung thư tử cung hoặc ung thư vòm họng

Theo Webphunu

Michael Douglas bị ung thư vòm họng vì ‘oral sex’

Tài tử gạo cội Hollywood tiết lộ, nguyên nhân khiến ông bị ung thư chính là vì quan hệ tình dục bằng miệng.

Michael Douglas Michael Douglas bị ung thư vòm họng vì oral sex

Tài tử Michael Douglas.

Michael Douglas được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vòm họng vào giữa năm 2010 với u nhỏ ở đáy lưỡi. Khi đó, nam diễn viên nói rằng, ông mắc căn bệnh này vì nhiều năm nghiện rượu và thuốc lá. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn trên tờ The Guardian, Douglas đã thú nhận sự thật gây sốc nguyên nhân bệnh tình của mình.

Khi phóng viên hỏi liệu Douglas có hối hận vì những năm tháng hút thuốc và uống rượu, ông liền trả lời: “Thực tế không phải vậy, bởi vì nguyên nhân gây ung thư là do nhiễm vi rút HPV thông qua con đường ân ái bằng miệng… Tôi đã cho rằng việc lo nghĩ con trai đi tù khiến mình mắc bệnh nhưng không phải. Chính căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục mới là nguyên nhân gây ung thư”.

Vi rút HPV là nguyên nhân hàng đầu gây ra các ung thư vùng hậu môn – sinh dục như ung thư cổ tử cung, dương vật, hậu môn. Một nghiên cứu gần đây cho biết, nhiều trường hợp ung thư vòm họng dương tính với vi rút này.

Michael Douglas and Catherine Michael Douglas bị ung thư vòm họng vì oral sex

Michael Douglas xuất hiện khỏe mạnh bên vợ yêu – Catherine Zeta-Jones tại sự kiện hồi tháng 4.

Thời trẻ, Michael Douglas từng bị đồn nghiện sex. Năm 2000, nam diễn viên 68 tuổi kết hôn với cô đào Catherine Zeta-Jones và có cuộc hôn nhân hạnh phúc. Cặp sao sinh hai con, một trai một gái. Douglas cũng có con trai Cameron từ cuộc hôn nhân trước. Tháng 7/2010, một tháng trước khi Michael Douglas phát hiện ra bệnh ung thư, Cameron bị bắt giữ và kết án tù 5 năm tù vì tội tàng trữ ma túy.

Sau khi phát hiện ra bệnh, nam diễn viên đã mất hơn một năm điều trị chiến đấu với căn bệnh nguy hiểm này. Ông từng bị sút 20 kg vì phải ăn cháo, súp trong suốt thời gian dài. Hiện tại, ông đã gần như khỏi bệnh.

Hoài Vũ

Trị chứng khàn tiếng, ho đờm do thời tiết

GiadinhNet – Giao mùa khiến nhiều người mắc chứng ho đờm, khàn tiếng, mất giọng. Tuy chỉ là “bệnh vặt” nhưng nếu không điều trị dứt điểm dễ gây viêm thanh quản mãn dẫn tới xơ dây thanh, u nang dây thanh

khantienghodom Trị chứng khàn tiếng, ho đờm do thời tiết

Thời tiết chuyển mùa dễ dẫn tới khan tiếng, mất tiếng ở những người có dây thanh quản nhạy cảm. Ảnh chỉ mang tính minh họa

Ai dễ bị khàn tiếng?

Theo GS.TS Ngô Ngọc Liễn, Chủ tịch Hội Tai mũi họng Hà Nội, chứng khàn tiếng kéo dài, dễ tái phát mỗi khi thay đổi thời tiết, chuyển mùa dẫn tới mất tiếng. Chứng này rất hay gặp với người có dây thanh quản nhạy cảm, hay bị viêm họng khó chữa dứt điểm, hoặc khi phát âm to, liên tục… Ngoài ra, những người làm việc lâu ở môi trường ô nhiễm, hít phải hóa chất, bị nhiễm cúm… cũng dễ khiến dây thanh bị viêm nhiễm. Nếu chủ quan để lâu không chữa trị có thể dẫn đến viêm thanh quản mãn dẫn tới xơ dây thanh, polip dây thanh, u nang dây thanh. Với nam giới nếu hút thuốc lá, uống rượu còn có thể dẫn đến ung thư thanh quản.

Theo BS Vân Thanh (BV Chợ Rẫy TP HCM), nước trà, nước cốt chanh – muối, hay mật ong – dầu ô liu – nước chanh… là cách dân gian trị khàn tiếng tạm thời như do viêm họng, thời tiết thay đổi. Còn khàn tiếng lâu ngày không khỏi tốt nhất nên đi khám để tìm nguyên nhân chữa trị, đặc biệt với người lớn tuổi, người hút thuốc lá… để tránh trường hợp đáng tiếc.

Người bệnh cần theo đúng y lệnh, điều chỉnh sinh hoạt hợp lý. Hằng ngày cần vệ sinh răng miệng, súc họng bằng nước muối ấm (hoặc nước trà đặc pha muối, nước ấm pha mật ong, ngậm mật ong chanh, thuốc súc họng bán sẵn) để tránh nhiễm khuẩn.

Khi thay đổi thời tiết ẩm, lạnh cần giữ ấm cổ, mũi thở thông. Đặc biệt, uống đủ lượng nước cơ thể cần cũng sẽ giúp rút ngắn thời gian bị khan tiếng. Hạn chế đồ uống có chứa cafein, đồ uống có cồn, đồ uống lạnh, món ăn lạnh vì sẽ làm các dây thanh âm nhạy cảm, khó phục hồi.

Theo Đông y, khàn tiếng thường đi kèm với nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Dân gian có một số bài thuốc dễ làm như: Dùng 1/2 kg giá đậu xanh, rửa sạch, giã nát, thêm chút nước sôi khuấy đều. Mỗi lần ngậm 10- 20ml nước đó, nuốt dần (hoặc nhai giá sống), dùng khi mới bị khan tiếng rất hiệu quả. Món chè đậu xanh nguyên vỏ, canh đậu xanh nguyên vỏ vừa bổ dưỡng vừa có thể chữa khàn giọng.

Trị chứng ho đờm

Theo BS Duy Anh (BV E Hà Nội), ho có đờm là triệu chứng còn lại sau khi bị viêm họng, viêm xoang, ngạt mũi… gây nặng ngực, khó thở, mệt mỏi do chất nhầy xuất tiết vướng và ngứa ngáy ở cổ. Trẻ em sẽ khó ăn uống, dễ bị nôn.

Chứng ho đờm có một số thuốc viên, sirô có thể cắt đứt cơn ho tận gốc, hoặc tiêu nhầy, long đờm, giảm độ nhầy dính để tống đờm ra ngoài. Thuốc rất dễ dùng cho cả người lớn, trẻ nhỏ và người già, nhưng cần đi khám để bác sĩ kê đơn, không tự ý dùng vì có những thuốc có thể phá hủy lớp chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày, rất nguy hiểm cho người bị loét dạ dày. Hoặc loại thuốc có antihistamin sẽ làm đặc đờm và ho nhiều hơn.

Về ăn uống, khi bị ho đờm chủ yếu cần uống nhiều nước (trẻ từ 10 kg trở lên cần uống 1-1,5 lít/ngày) để làm đờm đặc loãng ra, dễ thở và tống bớt độc tố ra ngoài. Tránh chất uống có cồn, cà phê. Nên ăn những món mềm, loãng để dễ nuốt (như súp, cháo, sữa…) và các món giàu vitamin A, C (có trong chanh, cam…), kẽm, sắt (cà rốt, rau dền, bí đỏ, đu đủ, lê, táo, thịt bò, gà, trứng…) để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể. Không nên ăn những món ngọt nhiều mỡ (bánh rán, chiên xào, đồ chế biến sẵn), sữa nguyên kem, pho mát… vì làm ho đờm có thể nặng hơn, khó tiêu và tăng tiết đờm.
Khi bị ho đờm, nếu nằm điều hòa chỉ nên để ở 26 – 27 độ C. Nếu nằm quạt nên để quạt chếch người, hướng xuống dưới chân, cách chỗ nằm hơn 1m (nhớ phủ một khăn bông lên ngực). Bạn cũng nên giữ gìn nhà cửa sạch sẽ, thông thoáng và có nhiều ánh sáng chiếu vào để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh.

Trà Giang

Bộ máy phát âm

I.BỘ PHẬN CUNG CẤP LÀN HƠI :

Bao gồm hai lá phổi, được sự tác động của các cơ ngực, sườn, cơ hoành cách mô, cơ bụng

1. Phổi gồm những tế bào xốp, có độ co giãn lớn, tạo thành bỡi những túi nhỏ, các túi này giãn ra để chứa đầy không khí, và co lại để đẩy không khí ra ngoài bằng các phế quản. Các phế quản này đều thông vào khí quản, trông giống như những rễ cây bám vào gốc cây .

Sự co giãn chủ động của phổi là do sự hỗ trợ tích cực của lồng ngực và hoành cách mô cùng các cơ bụng: Hoành cách mô hạ xuống, lồng ngực trương ra, làm cho phổi giãn ra tăng thêm thể tích, tạo khoảng trống cho không khí ở bên ngoài vào. Hoành cách mô nâng lên, bụng hơi hóp vào, lồng ngực buông lỏng xuống, làm cho phổi thu nhỏ lại, đẩy không khí ra ngoài

2. Chúng ta có thể ví hai lá phổi như một cái bễ, cung cấp dưỡng khí cho cơ thể và thải thán khí ra ngoài. Mỗi lần thở bình thường, ta hít vào nửa lít không khí. Mỗi phút, ta thở khoảng 15 lần và 15 lít máu được đổi mới.

Khi làn hơi từ phổi được đẩy ra ngoài, nếu tác động đúng cách lên thanh đới (dây tiếng), thì sẽ phát ra âm thanh. Chất lượng của âm thanh phát ra, một phần lớn phụ thuộc vào làn hơi từ phổi đưa lên tác động vào thanh đới. Cần phải tập luyện hơi thở sao cho đầy đặn, và điều chế làn hơi sao cho nhuần nhuyễn phù hợp với nhu cầu trong ca hát.

II.BÔ PHẬN PHÁT THANH

(Chỉ mới phát ra âm thanh chứ chưa phát ra tiếng, ra lời) gồm 2 thanh đới nằm trong thanh quản

1. Thanh quản là một ống nối tiếp với khí quản. Phần giữa thanh quản thắt lại như cổ chai. Chỗ thắt lại này là do các dây cơ và sụn chắn ngang hai bên tạo nên thanh đới. Thanh đới là bộ phận chủ yếu tạo ra âm thánh: Do áp lực của làn hơi từ phổi đưa lên, thanh đới, với những độ căng khác nhau và hình dạng khác nhau, mở ra và đóng lại nhanh chậm khác nhau, cắt làn hơi thành những sóng âm có tần số khác nhau, tạo thành những âm thanh có cao độ khác nhau:Thanh đới mỏng/ngắn mở đóng nhanh hơn thanh đới dày/dài(thanh đới ở phụ nữ và trẻ em ngắn và mỏng hơn ở đàn ông, nên giọng nữ và trẻ em cao hơn giọng đàn ông một bát độ). Thanh đới mỏng hơn khi được căng ra, hoặc thanh đới không mở đóng toàn phần, mà chỉ mở đóng trên một phần nào đó của mình, làm cho phần thanh đới tham gia cắt làn hơi ngắn đi, và như vậy tạo được những âm thanh cao. Độ căng, hình dạng, kích thước của thanh đới không chỉ ảnh hưởng đến cao độ, mà cả âm sắc nữa. Còn cường độ âm thanh là do sức mạnh của làn hơi đưa lên

Như vậy âm thanh phát ra phù hợp hay không là do sự phối họp nhuần nhuyễn giữa làn hơi và các cơ điều khiển thanh đới. Do đó, cần bảo vệ thanh đới cho lành mạnh.

2. Biện pháp bảo vệ thanh đới tốt nhất là hát cho đúng cách, nghĩa là hát làm sao để cho mọi hoạt động khác hỗ trợ cho thanh đới đều phải phù hợp, không bao giờ hát quá sức, tức là hát quá lớn và quá cao. Hát quá lớn như gào thét, có thể dẫn đến chỗ “mất tiếng” do thanh đới bị tổn thương không có khả năng làm việc linh hoạt theo yêu cầu của nghệ thuật ca hát. Hát quá cao không phù hợp với loại giọng của mình, làm cho thanh đới căng ra quá mức, nếu kéo dài và phối hợp với hát lớn, cũng gây tổn thương đến thanh đới.

III.BỘ PHẬN TRUYỀN TĂNG ÂM

Gồm chủ yếu là cuống họng (yết hầu) thông với đường miệng hoặc đường mũi.

1. Các chấn động âm thanh do thanh đới tạo ra, được bộ phận truyền âm gom lại và dẫn ra ngoài theo hai hướng miệng hoặc mũi. Cuống họng và miệng không những truyền âm, mà còn góp phần khá quan trọng vào việc tăng âm (đóng vai trò như một hộp cộng hưởng).

2. Cuống họng được bao bọc bởi một hệ thống niêm mạc, dễ bị kích thích, do đó cần phải giữ gìn để cuống họng không bị viêm nhiễm, ảnh hưởng xấu đến giọng hát (tránh dùng rượu, cà phề, thuốc lá và thức ăn thức uống quá nóng, quá lạnh, quá cay …)

IV.BỘ PHẬN PHÁT ÂM (nhả chữ)

Là miệng với các hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới,vòm mềm (hàm ếch mềm, cúa mềm, ngạc mềm,). Chúng ta nhận ra được lời ca, tiếng hát với ý nghĩa của nó, là nhờ vào hoạt động của các cơ năng trên. Khi nói đến khẩu hình là nói đến hình thể, hình dáng, cả bên ngoài lẫn bên trong của miệng do hoạt động phối hợp của môi, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm tạo ra khi phát âm. Mở khẩu hình không đúng cách sẽ ảnh hưởng không chỉ đến chất lượng âm thanh, mà nhất là ảnh hưởng đến việc rõ lời, là một yêu cầu cơ bản trong thanh nhạc.

V.BỘ PHẬN DỘI ÂM

Gồm tất cả các khoảng trống trong thân thể, chủ yếu là các khoảng trống trên đầu, trên mặt, gọi là xoang cộng minh (cộng hưởng). Ngoài khoang họng và khoang miệng vừa tăng âm vừa dội âm, thì các xoang mũi, xoang vòm mặt, xoang trán v.v…chủ yếu có tính cách dội âm, tức là làm cho âm thanh được cộng hưởng, âm vang đầy đặn, giàu âm sắc nhờ các bội âm (hoạ âm) mà chúng tạo ra. Vì thế, khi hát cần phải phóng âm thanh lên phía trước (tiếng Pháp gọi là chanter en avant) để tạo được vị trí dội âm trước mặt. Vị trí trước mặt mà làn hơi phải hướng tới không giống nhau đối với mọi người. Mỗi người sẽ tìm từng vị trí cho từng cao độ, nhưng nói chung chúng nằm khoảng giữa hàm trên và trán (ngay cả khi nói, nếu ta biết nói âm thanh ra phía trước, thì họng ta sẽ đỡ mệt và tiếng nói ta vẫn rõ ràng mà không tốn sức)

Khàn tiếng do căng cơ

Tổng quan

Rối loạn giọng nói do căng cơ chỉ tình trạng khan tiếng và khó khăn khi nói do sự căng quá mức hay sự mất cân bằng của các cơ trong và xung quanh thanh quản. Nó có thể là do thói quen lạm dụng thường xuyên các cơ thanh quản hoặc là do cơ thanh quản cố hoạt động bù đắp cho những tổn thương tiềm ẩn như viêm hoặc điều kiện thần kinh, hoặc sự tăng trưởng bất thường trên các nếp gấp thanh quản.

Nguyên nhân

Vấn đề trực tiếp về kỹ thuật phát âm và và lạm dụng cơ thanh quản
Trào ngược acid từ dạ dày
Tình trạng viêm hoặc thần kinh tiềm ẩn, hoặc do sự tăng trưởng bất thường trên nếp gấp thanh quản

Triệu chứng

Khan tiếng
Phải cố gắng khi nói
Đau hoặc đau họng khi nói chuyện
Vỡ giọng một cách dễ dàng
Khó kiểm soát âm độ

Chẩn đoán

Cũng như các rối loạn giọng nói khác, kiểm tra nếp gấp thanh quản bằng nội soi mũi hoặc nội soi video hoạt tính có thể được tiến hành. Có thể được thực hiện tại phòng khám chuyên về giọng nói cùng với chuyên gia âm ngữ trị liệu. Đánh giá các điều kiện tiềm ẩn như trào ngược axit cũng có thể được đề nghị.

Điều trị

Thông thường phải điều trị nhiều mặt, bao gồm tất cả các nguyên nhân tiềm ẩn. Âm ngữ trị liệu có thể cần thiết để cải thiện kỹ thuật phát âm và khắc phục những thói quen xấu có thể tạo áp lực không cần thiết lên giọng nói của bạn. Thay đổi lối sống bao gồm cả thay đổi chế độ dinh dưỡng, giảm căng thẳng là cần thiết. Tránh lạm dụng giọng nói khi không cần thiết có thể giúp các cơ thanh quản thư giãn và nghỉ ngơi. Thuốc điều trị trào ngược axit cũng có thể được dùng.

Spasmodic dysphonia (chứng khó phát âm do co thắt) là một điều kiện đặc biệt có thể dẫn đến các triệu chứng tương tự như rối loạn giọng nói do căng cơ. Cần chẩn đoán cẩn thận để phân biệt hai bệnh này vì tiêm độc tố botulinum có thể giúp ích trong chứng khó phát âm do co thắt.

Thói quen tốt cho những người thường xuyên sử dụng giọng nói:

  • Thường xuyên uống nước
  • Làm ấm giọng trước khi bắt đầu phải nói nhiều
  • Sử dụng microphone khi nói chuyện trước đám đông
  • Tránh dùng viên ngậm (chúng đôi khi làm khô cổ họng)
  • Dưỡng giọng khi không cần phải sử dụng nó.

Bệnh lý trào ngược dạ dày – thực quản tạo hạt xơ dây thanh

I.- Đặt vấn đề:

trao nguoc thuc quan Bệnh lý trào ngược dạ dày   thực quản tạo hạt xơ dây thanh
Bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (BTNDD-TQ) đã được y văn đề cập đến từ vài chục năm nay, nhưng ở Việt Nam, bệnh này chỉ mới được lưu ý từ vài năm trở lại đây. Một trong các nguyên nhân làm cho BTNDD-TQ chưa được quan tâm đúng mức ở nước ta do triệu chứng quan trọng nhất của bệnh này chưa được tầm soát kỹ, trong khi các triệu chứng khác thì rất dễ bị lầm lẫn và thường được qui cho các bệnh khác như viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm thanh quản, viêm mũi xoang…

Vậy BTNDD-TQ là gì ? Đó là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên của dịch dạ dày lên thực quản. Do tính chất kích thích của các chất dịch trong dạ dày như HCI, pepsine, dịch mật… đối với niêm mạc thực quản, nên sẽ gây ra các triệu chứng và biến chứng.

BTNDD-TQ khá phổ biến ở các nước phương Tây với tần xúat từ 15 – 30% dân số. Ở các nước châu Á tần xuất dao động từ 5 – 15%.

Nếu không điều trị kịp thời dễ tạo thành hạt xơ dây thanh ở thanh quản gây khàn tiếng kéo dài …

II. Nguyên nhân – Sinh bệnh học của BTNDD-TQ:

Ở trạng thái sinh lý bình thường thỉnh thoảng cũng có hiện tượng trào ngược dịch dạ dày lên thực quản nhưng rất thoáng qua và không gây hệ quả gì. Có một cơ chế bảo vệ chống trào ngược gồm nhiều yếu tố (1) Hoạt động của cơ thắt dưới thực quản (CTDTQ) là yếu tố rất quyết định trong hiện tượng TNDD-TQ. Nó có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ niêm mạc thực quản đối với HCI của dịch dạ dày. Bình thường CTDTQ chỉ dãn mở ra khi nuốt, sau đó sẽ co thắt và đóng kín ngăn không cho dịch DD trào ngược lên TQ. Tuy nhiên, vẫn có lúc trương lực cơ bị giảm và dịch DD trào ngược lên TQ. (2) Khi có sự trào ngược của dịch DD lên TQ, dịch nhày thực quản với bi-carbonat và nước bọt do có tính kềm sẽ trung hòa HCI của dịch vị làm giảm hoặc mất sự kích thích của dịch vị lên niêm mạc TQ. (3) Nhu động của TQ sẽ đẩy dịch trào ngược trở xuống DD.

Khi CTDTQ hoạt động không tốt sẽ dẫn đến BTNDD-TQ. Các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn hoạt động của CTDTQ và cơ chế bảo vệ chống trào ngược có thể do (1) Sự dãn CTDTQ xảy ra thường xuyên hơn và kéo dài hơn, (2) Thoái vị hoành, (3) Rối loạn nhu động thực quản, (4) Giảm tiết nước bọt (thuốc lá) và (5) Các tác nhân làm giảm áp lực CTDTQ như các thuốc secretin, cholécystokinine, glucagon; các thuốc kích thích β thụ cảm, ức chế α , kháng tiết choline, theophylline; các chất cafein, rượu, thuốc lá, chocolate, hay bữa ăn nhiều mỡ…

 

III. Triệu chứng và biến chứng:

Các triệu chứng quan trọng của BTNDD-TQ là ợ nóng, trớ nuốt khó. Các triệu chứng không điển hình thường do các biến chứng của BTNDD-TQ.

1. Ợ nóng: Là cảm giác gây ra do trào ngược dịch dạ dày lên TQ. Niêm mạc TQ bị kích thích bởi HCI hoặc dịch mật trong dịch dạ dày làm bệnh nhân có cảm giác nóng rát lan từ thượng vị lên dọc sau xương ức, có khi lan đến vùng hạ họng hoặc lên tận mang tai. Trường hợp điển hình, chứng ợ nóng xuất hiện sau bữa ăn và theo tư thế cúi gập người về trước, hoặc những cơn ho ban đêm do tư thế nằm. Các triệu chứng trên tăng khi uống rượu, uống nước chua.

2. Trớ: là sự ựa ngược dịch đọng trong TQ, ngay trên phần bị nghẽn tắc. Trớ thường xảy ra do thay đổi tư thế hay 1 sự gắng sức. Dịch trớ thường không mùi vị, không chua và có thể lẫn thức ăn chưa tiêu hóa.

3.Nuốt khó: là cảm giác dừng đứng của thức ăn hay thức uống trong thực quản ngay sau khi nuốt. Cần phân biệt với nuốt khó do nguyên nhân hầu miệng là thức ăn không đến được vùng hạ họng mà trào ngược lên mũi hoặc bị lạc vào khí quản thường có kèm theo sặc. Trước bệnh nhân bị nuốt nghẹn, dù rất nhẹ hay thoáng qua, cũng phải cảnh giác một ung thư TQ và phải làm một số thăm dò như X quang hoặc nội soi TQ để xác minh hoặc loại trừ nguyên nhân này.

4. Các triệu chứng không điển hình: thường dễ gây nhầm lẫn trong chẩn đoán với các bệnh khác như đau ngực, cảm giác cục nghẹn, ứa nước bọt trong họng, ho mạn tính, hen suyễn, khàn giọng, viêm xoang, viêm hầu họng, đắng miệng và đau họng, hôi miệng, nấc cục, ói…

5. Diễn tiến và các biến chứng của BTNDD-TQ: Điểm cần lưu ý là không có sự song hành giữa triệu chứng lâm sàng và tổn thương thực thể của các biến chứng: Đau nhiều chưa chắc đã có tổn thương viêm thực quản nặng; ngược lại viêm thực quản nặng có thể diễn tiến âm thầm cho đến khi xuất hiện các biến chứng loét, hẹp, xuất huyết. Biến chứng thường xảy ra nhất là viêm thực quản do trào ngược (VTQTN) với các hệ quả loét, teo hẹp. Xơ hóa do viêm có thể làm co rút thực quản (Bracheesophage). Niêm mạc thực quản bị ngắn (Emdobrachyesophage) do niêm mạc thực quản bị thay thế dần bởi niêm mạc dạ dày (chuyển sản niêm mạc Barrett) với nguy cơ hóa ung thư đoạn niêm mạc bị chuyển sản. Loét thực quản có thể gây XHTH. Hiếm gặp hơn là các biến chứng viêm thanh quản, viêm xoang, viêm mũi họng, viêm phổi do hít do trào ngược xảy ra vào ban đêm.

 

IV. Chẩn đoán:

Trong đa số trường hợp chẩn đoán chủ yếu dựa vào hỏi bệnh sử và qua theo dõi thấy có đáp ứng với điều trị thử. Triệu chứng điển hình của BTNDD-TQ là chứng ợ nóng. Khi bệnh nhân có triệu chứng điển hình này, ta có thể tiến hành điều trị thử với các thuốc ức chế bơm proton (Omeprazole, Lansoprazole, Rabeprazole). Những ca có triệu chứng không điển hình thường cần được thăm dò cận lâm sàng để xác định chẩn đoán. Nội soi thực quản giúp phát hiện các biến chứng của BTNDD-TQ như viêm thực quản, loét, hẹp thực quản và chuyển sản Barrett. X Quang thực quản chỉ phát hiện các biến chứng teo hẹp, loét thực quản, hoặc thoái vị hoành. Đo áp lực CVDTQ không chính xác vì nhiều nguyên nhân như thay đổi áp lực với khẩu kính ống đo, với cử động hô hấp… Đo pH thực quản là phương pháp tin cậy hơn để chẩn đoán TNDD-TQ nhưng không xác định được các tổn thương thực thể do trào ngược. Nghiệm pháp Beratein, không nhạy và không đặc hiệu, thường dùng trong chẩn đoán nguyên nhân của đau ngực không do tim.

V. Điều trị:

Các phương pháp điều trị nội khoa gồm: (1) Chế độ ăn giảm các chất kích thích như rượu, café, thuốc lá, chocolate; Tránh ăn quá no hoặc uống nhiều nước có gas. (2) Tránh làm tăng áp lực xoang bụng như nịt lưng, nịt vú quá chặt. (3) Tránh sử dụng 1 số thuốc làm giảm trương lực CVDTQ như: Anticholinergic, Theophylline…(4) Sử dụng các thuốc chống tiết acid nhóm ức chế bơm proton (PPI) làm giảm các triệu chứng và làm lành viêm thực quản trong đa số trường hợp nên là thuốc được chọn đầu tiên trong điều trị nội khoa BTNDD-TQ. Những ca nhẹ có thể dùng các thuốc làm tăng trương lực CVDTQ như Metoclopramide, Domperidone, Cisapride hoặc các thuốc Antacid, Acid Alginic cũng có kết quả. Do bệnh dễ tái phát sau ngưng thuốc nên thường phải điều trị duy trì sai giai đoạn điều trị tấn công (giảm nửa liều) hoặc dùng thuốc khi có triệu chứng (thuốc uống khi cần).

Phẫu thuật thường được chỉ định trong ca không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với điều trị nội khoa. Đó là các phương pháp tạo nếp gấp đáy vị (phẫu thuật Nissen, phẫu thuật Toupet), hoặc các phương pháp can thiệp qua nội soi (khâu CVDTQ qua nội soi, Tiêm chất sinh học làm tăng khối cơ). Những ca bị biến chứng hẹp thực quản có thể được nong thực quản qua nội soi.

VI. Kết luận:

Bệnh TNDD-TQ là một bệnh mạn tính ngày càng thường gặp hơn ở các nước châu Á và có khuynh hướng tăng tần xuất ở Việt Nam. Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống do các triệu chứng mà còn có thể gây các biến chứng nặng như loét thực quản, hẹp thực quản và hóa ung thư. Việc chẩn đoán và điều trị cần được xem xét, cân nhắc kỹ để đạt kết quả tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, cũng như tránh bỏ sót những biến chứng nguy hiểm như hóa ung thư.

Lao thanh quản

Giọng khàn – coi chừng lao thanh quản

Lao thanh quản có mối liên quan mật thiết với lao phổi. Từ phổi, vi khuẩn lao trong đờm, mủ bị khạc ra ngoài có thể dính vào thanh quản lúc đi qua cơ quan này và gây nhiễm bệnh, nhất là khi có các tổn thương viêm, phù nề, trợt…

laodaythanh02 Lao thanh quản

Lao dây thanh: Rất dễ nhầm với Nấm dây thanh hay Ung thư dây thanh giai đọan sớm

Vi khuẩn lao còn đến thanh quản bằng đường bạch huyết và đường máu. Bệnh có thể phối hợp với lao khí – phế quản hoặc đơn độc mà không có tổn thương ở bất kỳ bộ phận nào khác.

Biểu hiện lao ở thanh quản rất đa dạng:

Thể thâm nhiễm: Niêm mạc thanh quản dày sần từng phần hoặc toàn bộ.

Thâm nhiễm phù nề: Niêm mạc thanh quản dày, mọng đỏ, nắp thanh quản có hình dạng “mõm cá mè” không di động được. Dây thanh âm to dày làm hẹp thanh môn.

Thâm nhiễm sùi: Trên nền thâm nhiễm có các nụ sùi.

Thâm nhiễm loét: Các nốt lao vỡ ra để lại các vết loét nông hoặc sâu bờ không đều trên nền niêm mạc dày sần.

Thể u lao: Khối u tròn nhẵn hoặc sần sùi như quả dâu.

Thể lao kê: Trên nền niêm mạc dày đỏ có các nốt nhỏ màu xám trắng đồng đều.

Dấu hiệu quan trọng nhất của lao thanh quản là thay đổi giọng nói. Khàn tiếng ngày một tăng, thậm chí gây mất tiếng khi dây thanh âm bị phá hủy hoàn toàn. Tiếng ho cũng khác lạ, nghe ồ ồ, rè rè; thoạt đầu ho khan, sau ho có đờm, mủ. Người bệnh nuốt vướng hoặc đau khi nuốt; sặc khi uống nước do nắp thanh quản di động không tốt, đậy không kín hoặc bị phá hủy.

Chứng khó thở xuất hiện muộn hơn do dây thanh âm phù nề, khối u lồi vào thanh quản hay do xơ sẹo co kéo, làm hẹp lòng thanh quản. Khó thở đột ngột xuất hiện từng cơn sau các kích thích như nội soi, sinh thiết; hoặc khó thở liên tục với đặc điểm có tiếng rít, nhiều khi tiếng rít to đến mức người bệnh cùng phòng chịu không nổi vào ban đêm.

Lao thanh quản có thể bị nhầm lẫn với các bệnh khác có cùng triệu chứng khàn tiếng, khó thở, có tiếng rít như viêm thanh quản do vi khuẩn khác, cúm, ung thư thanh quản, polyp, u nhú thanh quản, liệt dây thanh âm, lao phế quản, u ở trung thất hoặc phổi chèn ép vào khí quản…

Để chẩn đoán bệnh, phải tiến hành soi phế quản, sinh thiết để chẩn đoán mô bệnh và tìm tổn thương phối hợp, trước tiên là ở phổi. Về điều trị, ngoài việc sử dụng thuốc chống lao, bệnh nhân còn phải dùng thuốc chống viêm, phù nề (corticoid) để bảo tồn giọng nói và cải thiện khó thở.

Việc nội soi thanh quản ngoài chẩn đoán còn rất có ích cho việc chỉ định mở khí quản. Khi thanh quản hẹp, người bệnh khó thở nhiều, phải mở khí quản tạo một đường thông với bên ngoài không qua thanh quản. Đây là một chỉ định bắt buộc.

BS Bình Lâm, Sức Khỏe & Đời Sống

MỌI NGƯỜI THAM KHẢO NHẬN XÉT CỦA BỆNH NHÂN TRÊN TRANG FACEBOOK Tư Vấn, Điều trị Bệnh Khàn Tiếng Community

Khàn tiếng do Nấm dây thanh (thanh quản)

Nấm thanh quản có dẫn đến khàn tiếng không?

Thanh quản là bộ phận hẹp nhất của đường thở. Do thanh quản nằm ở cửa ngõ của đường hô hấp dưới với các chức năng đảm nhiệm là: thở, phát âm và bảo vệ phổi, nên các bệnh lý của thanh quản đều ảnh hưởng lên ba chức năng này, biểu hiện hay gặp nhất là khàn tiếng, khó thở và ho.

namdaythanh01 Khàn tiếng do Nấm dây thanh (thanh quản)

Nấm dây thanh: Rất dễ nhầm với lao dây thanh hay Ung thư dây thanh giai đọan sớm

Triệu chứng điển hình

Khàn tiếng là một biểu hiện thường gặp nhất trong số các triệu chứng, 70% bệnh nhân bị bệnh lý thanh quản đến khám vì dấu hiệu này, nhất là trong một số nghề nghiệp đặc thù như giáo viên, ca sĩ, nhân viên bán hàng. Khàn tiếng là một triệu chứng do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có bệnh nấm thanh quản.

Ngoài biểu hiện hay gặp là chứng khàn tiếng kéo dài có thể xuất hiện thêm triệu chứng như ngứa cổ và ho từng cơn, những cơn ho có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào trong ngày, ho khan hoặc ho có đờm xanh vàng nếu kèm theo bội nhiễm. Nếu không được điều trị kịp thời, các bào tử nấm xâm nhập dần vào lớp tổ chức dưới niêm mạc tạo thành khối nấm giả u gây khó thở, khó nuốt, thậm chí thở rít.

Tỷ lệ bệnh nhân bị nấm thanh quản trước đây hiếm nhưng ngày càng gia tăng do điều kiện làm việc, môi trường ngày càng ô nhiễm, các bệnh gây suy giảm sức đề kháng ngày càng nhiều, việc sử dụng thuốc không theo chỉ định cũng làm gia tăng tổn thương nấm gây bệnh tại thanh quản. Bệnh nấm thanh quản thường được phát hiện khi người bệnh đến khám với triệu chứng ho kéo dài, đã được điều trị bằng thuốc kháng sinh, chống viêm, chống dị ứng thông thường không đỡ.

Ai dễ mắc nấm thanh quản?

Loại nấm hay gây bệnh ở thanh quản mà người ta phân lập được là Candida và Aspergillus.

Nấm thanh quản thường gặp thứ phát trên bệnh nhân có hiện tượng suy giảm hệ miễn dịch, liên quan đến AIDS, ung thư vùng họng, bệnh ung thư máu, các khối u hệ liên võng nội mô hoặc sử dụng thuốc corticoid kéo dài, những bệnh hệ thống mạn tính (bao gồm đái tháo đường, bệnh hô hấp nặng, bệnh nhân đã ghép tạng thành công, có thể bị cùng với nấm phổi…) hoặc suy giảm sức đề kháng tại chỗ của bản thân niêm mạc vùng thanh quản do những thuốc xịt dự phòng hen có corticoid.

Nấm Candida albicans thường gây nhiễm bề mặt, đặc trưng bởi sự phì đại của lớp biểu mô bề mặt do sự thâm nhiễm trực tiếp lên niêm mạc nhưng trong một số trường hợp phải nghĩ đến hiện tượng xâm nhập của nấm vào tổ chức dưới niêm mạc nếu người bệnh có sốt, rét run và sốt rét.

Điều trị nấm thanh quản như thế nào?

Điều trị nấm thanh quản không khó và sau khi khỏi ít khi bệnh tái phát. Chỉ sử dụng thuốc chống nấm khi chẩn đoán xác định là nấm vì đây là nhóm thuốc gây độc với gan và khi uống bệnh nhân thường rất mệt. Thuốc hay được sử dụng chữa nấm thanh quản chủ yếu bằng đường uống, một số trường hợp đặc biệt có thể sử dụng thuốc chống nấm tiêm tĩnh mạch. Nhóm kháng sinh chống nấm phổ biến trên thị trường hiện nay bao gồm: amphotericin, flucanazole hoặc ketoconazole. Có thể sử dụng nystatin để làm thuốc thanh quản tại chỗ. Thời gian điều trị thay đổi từ 10 – 30 ngày phụ thuộc vào sự cải thiện của triệu chứng lâm sàng trên từng người bệnh.

MỌI NGƯỜI THAM KHẢO NHẬN XÉT CỦA BỆNH NHÂN TRÊN TRANG FACEBOOK Tư Vấn, Điều trị Bệnh Khàn Tiếng Community

Khàn tiếng và bệnh lý thanh quản

Thanh quản nằm ở vị trí ngã tư đường ăn và đường thở, thanh quản tiếp giáp từ hạ họng với khí quản. Vì vậy các tổn thương vùng lân cận từ mũi xoang xuống khí quản, thực quản lên đều có thể gây tổn thương tới thanh quản.
Cấu trúc chủ yếu của thanh quản là sụn, cơ, thần kinh, mạch máu, nối giữa các sụn là các cơ, màng như: màng nhẫn – giáp, màng giáp – móng và các cơ căng, cơ mở, cơ khép, v.v. Các sụn, các cơ có tác dụng làm vận động dây thanh khi nói, khi ăn, khi thở. Sự vận động thanh quản được chi phối bởi dây thần kinh hồi quy (xuất phát từ dây thần kinh X), trừ cơ nhẫn – giáp chi phối do dây thần kinh thanh quản trên.

Bề mặt thanh quản được che phủ bởi lớp niêm mạc biểu mô trụ, biểu mô lát, lớp dưới niêm mạc là tổ chức lỏng lẻo nên tổ chức niêm mạc rất dễ bị phù nề.

Chức năng của thanh quản chủ yếu là chức năng phát âm và hô hấp:
Chức năng hô hấp làm lưu thông đường thở và bảo vệ đường hô hấp. ở thì thở vào thanh môn mở ra tối đa, ở thì thở ra thanh môn mở vừa phải, vì vậy khi liệt cơ mở và cơ thắt hoặc cơ khép phù nề bệnh nhân xuất hiện khó thở. Phản xạ của thanh quản rất nhạy cảm, mỗi khi có dị vật hoặc khí độc xâm nhập niêm mạc hạ họng thanh quản gây phản xạ ho ngay tức thì.

Chức năng nói cho đến nay còn nhiều giả thuyết về cơ chế phát âm.
– Cơ chế hồi cơ (theoric myoelasticque) cho rằng sự rung động của dây thanh đai được sinh ra do sự mất thăng bằng giữa trương lực thanh đai và áp lực của không khí ở hạ thanh môn.
– Giả thuyết thần kinh của Husson cho rằng rung động dây thần kinh là do luồng thần kinh tác động vào các bó cơ của cơ giáp phễu.
– Giả thuyết rung sóng niêm mạc thanh đai cho rằng khi luồng không khí thoát qua thanh môn tạo ra sóng rung động ở niêm mạc thanh đai khi phát âm. Vì vậy khi tổn thương ở niêm mạc dây thanh như phù nề, xơ sẹo đều ảnh hưởng tới sự rung động dây thanh, tới chất lượng giọng nói. Tiếng nói khi thanh quản phát âm ra chưa hoàn chỉnh nó còn được cộng hưởng bởi các xoang mặt, lưu thông qua mũi, họng miệng, môi, lưỡi mới tạo ra giọng nói hoàn chỉnh ở từng cá nhân.

Từ cấu tạo trên, chúng ta thấy sự tổn thương ở vùng mũi họng và đường hô hấp cũng như toàn thân đều có thể ảnh hưởng tới bệnh lý thanh quản, tác động tới chất lượng giọng nói. Tổn thương trực tiếp thanh quản thường biểu hiện ho, khó thở, khó nuốt, rối loạn phát âm như: viêm thanh quản cấp, u thanh quản, lao thanh quản

Nguyên nhân viêm thanh quản thường gặp viêm thanh quản sau cảm cúm, sau lạnh đột ngột, viêm thanh quản sởi (trước, trong phát ban, sau phát ban), viêm thanh quản rít thường gặp ở bệnh bạch hầu, viêm thanh quản do dị ứng. Tất cả những bệnh lý thanh quản đều ảnh hưởng trực tiếp tới giọng nói của người bệnh.

Tại chỗ thanh quản tổn thương thường thấy phù nề thanh nhiệt, viêm tấy dây thanh, nếu tổn thương cấp tính mức độ nặng có thể thấy loét, hoại tử, áp xe dây thanh, nếu tổn thương kéo dài viêm mạn tính lớp niêm mạc, các tế bào trụ mất lớp lông chuyển còn lại lớp tế bào dẹt, tổ chức xơ phát triển, polip dây thanh hoặc hạt thanh đai, papilom thanh quản hình thành…

Một số hình thái bệnh lý thanh quản biểu hiện qua giọng nói

Khàn tiếng; tiếng nói mất âm sắc, rè rè nói không rõ ràng thường gặp viêm thanh quản.
Tiếng nói phều phào, yếu ớt, ngắt hơi, đứt quãng, do thở quá yếu ngắt quãng không đủ rung dây thanh tạo thành tiếng rõ ràng.
Tiếng cứng người nghe cảm giác người nói phải rặn để phát âm thường thấy ở trường hợp K thanh quản.
Tiếng hai giọng do liệt một bên dây thần kinh hồi quy ảnh hưởng tới vận động một bên dây thanh, khi nói tần số rung động được một bên dây thanh, còn lại bên liệt rung động kém lệch tần số so với dây thanh không bị liệt, nên tạo ra 2 giọng nói.
– Khập khiễng thanh quản từng lúc: Bệnh nhân nói không được dài, nói sau vài phút bị mất tiếng, nghỉ nói vài phút giọng nói lại xuất hiện trở lại, tiếp tục nói lại mất tiếng.
Mất tiếng thường gặp ở lao thanh quản.

Ðể chẩn đoán bệnh lý thanh quản một cách chính xác, người bệnh phải đến cơ sở khám bệnh do thầy thuốc chuyên khoa khám thanh quản bằng các dụng cụ như: soi thanh quản gián tiếp, soi trực tiếp hoặc nội soi thanh quản bằng ống soi mềm khi ống cứng không phát hiện được. Tìm nguyên nhân tổn thương thanh quản như viêm thanh quản, nấm thanh quản, lao thanh quản,v.v. hoặc có sự chèn ép vận động dây thanh từ ngoài vào, sau đó chỉ dẫn các biện pháp điều trị như làm thuốc thanh quản, khí dung, điều trị bằng các loại thuốc kháng sinh đặc hiệu, thuốc chống phù nề hoặc phẫu thuật vi phẫu thanh quản. Lưu ý trong giai đoạn điều trị phải kiêng nói to, nói nhiều và các chất dễ gây dị ứng, đồng thời có thể kết hợp xúc miệng bằng các dung dịch sát khuẩn như: Givalex pha loãng theo chỉ dẫn, dung dịch TB,… và ngậm cam thảo thường xuyên.
Tác giả: TS. Nguyễn Hữu Nghĩa
Nguồn: Báo sức khoẻ và đời sống số 10 – Thứ năm 23/1/2003

MỌI NGƯỜI THAM KHẢO NHẬN XÉT CỦA BỆNH NHÂN TRÊN TRANG FACEBOOK Tư Vấn, Điều trị Bệnh Khàn Tiếng Community